Thông tin

4 bước hô hấp hiếu khí


Hô hấp hiếu khí là một quá trình sinh lý diễn ra trong cơ thể bạn để tạo ra một phân tử năng lượng gọi là adenosine-5'-triphosphate, hoặc đơn giản là ATP. Tất cả các tế bào của cơ thể bạn đều dựa vào ATP để hoạt động bình thường. Điều này đặc biệt đúng vì nó liên quan đến hệ thống cơ xương của bạn, đòi hỏi một lượng lớn phân tử này để cho phép di chuyển bình thường. Có bốn bước chính trong quá trình hô hấp hiếu khí, mỗi bước góp phần vào việc sản xuất ATP.

Glycolysis

Bước đầu tiên trong hô hấp hiếu khí là glycolysis, nghĩa đen là sự phân hủy glucose. Quá trình này diễn ra trong tế bào chất, là một chất giống như thạch trong các tế bào của bạn. Trong quá trình glycolysis, các phân tử glucose bị phá vỡ để tạo ra bốn phân tử ATP, hai phân tử ba carbon gọi là pyruvate và hai phân tử nicotinamide adenine dinucleotide, hoặc NADH. Mặc dù bốn phân tử ATP được tạo ra ở đây, kết quả thực chỉ là hai phân tử ATP. Điều này là do glycolysis thực sự sử dụng hai ATP trong giai đoạn đầu tiên của quá trình để tạo ra glyceraldehyd-3-phosphate.

Acetyl-CoA

Bước tiếp theo trong hô hấp hiếu khí là sự hình thành acetyl-coenzyme A. Điều này xảy ra trong ty thể, là các bào quan năng lượng nhỏ trong các tế bào của bạn. Pyruvate được tạo ra trong quá trình glycolysis được chuyển đổi thành nhóm acetyl hai carbon, sau đó kết hợp với coenzyme A để tạo ra acetyl-coA.

Chu trình Krebs

Bước thứ ba trong hô hấp hiếu khí cũng diễn ra trong ty thể của bạn. Acetyl-coA được sản xuất từ ​​pyruvate kết hợp trong chu trình Krebs để tạo ra oxaloacetate, do đó tạo thành citrate. Sau đó, citrate này trải qua một số bước chuyển đổi để tạo thành các hợp chất sau, theo thứ tự: isocitrate, alpha ketoglutarate, succinyl-CoA, succinate, fumarate và malate. Trên đường đi, một phân tử guanosine triphosphate (GTP), ba phân tử NADH và một phân tử flavin adenine dinucleotide (FADH2), được sản xuất. GTP sau đó được chuyển đổi thành một phân tử ATP.

Chuỗi vận chuyển điện tử

Bước cuối cùng của hô hấp hiếu khí là chuỗi vận chuyển điện tử, hay ETC. Bước cuối cùng này sử dụng NADH và FADH2 đã được tạo trong các bước trước để tạo ATP. Chính xác là rất nhiều ATP - 34 phân tử ATP. ETC hoàn thành việc sản xuất ATP lớn này bằng cách bơm hydrogens từ NADH và FADH2 vào màng trong của ty thể của bạn, do đó tạo ra độ dốc proton điện hóa (H +). Do đó, năng lượng hóa học được tạo ra và năng lượng này được sử dụng để tạo ra năng lượng dưới dạng ATP thông qua enzyme ATP synthase.